Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

Phòng bệnh eczema cho trẻ

Nếu không biết xử trí đúng cách, bệnh có thể lan xuống cả cẳng chân, mông, bụng... tạo thành nhiều mảng, có mụn nước hoặc chảy nước vàng...

Eczema là một trong những căn bệnh về da có ảnh hưởng lớn đến hàng triệu người trên thế giới. Với trẻ em, eczema là một căn bệnh khá phổ biến và chiếm tỉ lệ khá cao so với những căn bệnh về da khác.
Những dấu hiệu của căn bệnh này thường xuất hiện khi trẻ khoảng từ 3-4 tháng tuổi, hai má của trẻ bắt đầu đỏ rực lên, hơi sần và không còn láng mịn như trước nữa. Trẻ thấy ngứa ngáy nên tìm cách dụi mặt vào ngực, vào vai mẹ hoặc đưa tay lên gãi vào hai má. Sau vài ba hôm, thấy mọc lên mụn nhỏ lấm tấm đỏ. Nếu không biết xử trí đúng cách, bệnh có thể lan xuống cả cẳng chân, mông, bụng... tạo thành nhiều mảng, có mụn nước hoặc chảy nước vàng, rất ngứa ngáy và khó chịu.
Để phòng ngừa bệnh eczema cho trẻ một cách hiệu quả nhất, các bậc phụ huynh nên thực hiện theo những bước đơn giản dưới đây:
- Giữ ấm da cho trẻ. Bạn nên thường xuyên giữ ấm cho làn da của trẻ không bị khô rát và ngứa ngáy và tăng độ ẩm cho làn da của trẻ bằng cách xoa lên da của trẻ (2 lần/ngày) những loại lotion có chứa chất dưỡng ẩm cao, không màu, không mùi và chứa các hoạt chất thân thiện với làn da của trẻ.
- Giữ cho phòng của trẻ luôn mát mẻ. Nhiệt độ cũng là một trong những yếu tố góp phần gây nên bệnh eczema. Do vậy, bạn nên chú ý giữ cho căn phòng của trẻ luôn sạch sẽ, mát mẻ bởi nếu không gian trong phòng của trẻ quá nóng sẽ làm cho trẻ đổ nhiều mồ hôi và khó thở, sẽ gây bất lợi cho sức khoẻ của trẻ.
- Giữ cho tay chân trẻ luôn sạch sẽ. Trẻ em thường làm tổn thương làn da của chúng trong quá trình vận động. Do vậy, thường xuyên cắt móng tay và giữ cho tay chân của bé luôn sạch sẽ là biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa sự trầy xước có thể gây viêm da.
- Chế độ ăn uống hợp lý. Một chế độ ăn uống không hợp lý, không đầy đủ chất dinh dưỡng có thể dẫn đến các biến chứng gây nên bệnh eczema cho trẻ em. Hơn nữa, người mẹ mang thai không hấp thụ đủ dưỡng chất cũng là yếu tố chính dẫn tới sự hình thành các vấn đề bất lợi cho làn da của trẻ về sau. Do vậy, các bậc phụ huynh nên cho con trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng, các bà mẹ đang mang thai cũng nên hấp thụ nhiều thực phẩm có lợi cho sức khoẻ như đậu tương, lạc, rau củ, hoa quả và lúa mì... để có lợi cho sự phát triển của thai nhi.
- Chọn trang phục chất liệu thiên nhiên. Bạn nên cho trẻ mặc các trang phục có chất liệu vải tự nhiên như cotton. Không nên cho trẻ mặc các trang phục có nhiều chi tiết rườm rà cọ trực tiếp với làn da của trẻ. Ngoài ra, bạn cũng nên chọn các loại chăn mền, khăn lót có chất liệu vải mềm mại, thoáng khí.

- Sử dụng các sản phẩm rửa tay an toàn. Làn da của trẻ rất mỏng manh, nhạy cảm và dễ bị kích ứng khi tiếp xúc với các chất hóa học gây hại có chứa trong các sản phẩm tẩy rửa. Những chất hóa học này sẽ dễ dàng xâm nhập vào lỗ chân lông trên làn da của bé, tác động bất lợi cho hệ thống miễn dịch và tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh eczema phát triển. Vì vậy, các bậc phụ huynh nên chọn các sản phẩm tẩy rửa không chứa chất hóa học hây hại để bảo vệ sức khoẻ cho làn da của trẻ.

Cách loại bỏ vết chai chân

Chai chân là hiện tượng lớp da chân bị chai cứng do đi giày hay dép quá chật so với kích cỡ của chân, dễ nhận biết khi xuất hiện vùng da ở chân khác thường.

Cũng có thể đó là một mảng tăng sừng màu vàng, sờ vào cứng, hình tròn hay hình bầu dục xuất hiện ở các ngón chân, gan bàn chân trước, gót, mu chân... là những vùng bị ma sát, tì đè nhiều trong sinh hoạt hằng ngày. Ngoài ra, còn có thể thấy ở những vùng xương bị lồi ra như mắt cá ngoài, khuỷu tay...

Chai chân thường không đau đớn nhưng càng về sau sẽ càng phát triển mạnh, lan rộng và có thể gây đau đớn.

Để điều trị chai chân, cần thực hiện những việc sau đây:

- Loại bỏ các tác nhân trực tiếp hay gián tiếp gây tì đè. Chẳng hạn như mang giày, dép vừa vặn, tránh những điểm tì quá mạnh (ví dụ như khi đi giày có gót cao và mũi nhỏ). Nếu ngón chân có tật, tốt hơn hết là đóng riêng một đôi giày cho phù hợp.

- Làm mềm vùng da chai đó bằng cách ngâm chân vào chậu nước nóng sau khi tắm hoặc sử dụng đá để chườm lên vết chai. Sau đó bôi thêm kem dưỡng ẩm để nuôi dưỡng vùng da đó. Có thể bôi acid salicylic làm bong sừng.


- Có thể điều trị bằng chấm nitơ lỏng hay đốt laser CO2.

- Điều trị toàn thân chống dày sừng bằng vitamin A.

Lưu ý: Không được đâm, chọc hay cắt vết chai vì như vậy sẽ rất dễ gây nhiễm trùng.

Ghẻ dễ gây biến chứng nhiễm khuẩn

ThS-BS CK2 Nguyễn Văn Út, Phòng Chăm sóc da BV Nguyễn Tri Phương (TPHCM), trả lời: 

Trong điều kiện vệ sinh kém, ghẻ sinh sôi nảy nở và lây truyền rất nhanh qua tiếp xúc trực tiếp giữa người bị ghẻ với người lành. Căn nguyên do ký sinh trùng có tên sarcoptes scabies xâm nhập da. Thương tổn là những mụn nước, rãnh ghẻ, sẩn cục, sẩn mụn nước ở những vị trí hay gặp là kẽ các ngón tay, mặt trước cổ tay, quanh rốn, nếp dưới rốn, đầu vú, da đùi, da bộ phận sinh dục, nách nhưng hiếm khi thấy ở mặt. 

Triệu chứng cơ năng khi bị ghẻ là rất ngứa và thường ngứa nhiều về đêm. Nếu không được phát hiện và chữa kịp thời, ghẻ sẽ biến chứng nhiễm khuẩn thành những mụn mủ chàm hóa rất khó chữa trị và lây lan rất nhanh.

Về điều trị thì chủ yếu là vệ sinh cá nhân và bôi thuốc chữa ghẻ. Đun sôi quần áo đang mặc, để quần áo trong tủ một tuần sau mới mặc lại.


Chữa hăm kẽ bằng thảo dược

Khi thấy hăm kẽ ở khe mông, kẽ hậu môn hay bộ phận sinh dục, nhất là ở các cháu gái, nguyên nhân đầu tiên phải nghĩ đến là thiếu sót trong giữ vệ sinh.

Hăm kẽ (nấm kẽ) là bệnh thường gặp ở trẻ em nhưng cũng có thể gặp ở cả người lớn, chủ yếu là người béo bệu. Khi bị hăm kẽ, biểu hiện là chỗ da hăm viêm đỏ, nền da lẩn mẩn mụn nước, có khi chảy dịch, có mủ, rất ngứa và đau rát ở những vị trí nếp kẽ như sau tai, cổ, nách, bẹn, khoeo chân, các nếp ngấn ở cánh tay, đùi.

Khi thấy hăm kẽ ở khe mông, kẽ hậu môn hay bộ phận sinh dục, nhất là ở các cháu gái, nguyên nhân đầu tiên phải nghĩ đến là thiếu sót trong giữ vệ sinh. Thông thường là do thiếu sót trong việc rửa ráy cho các cháu sau khi tiêu, tiểu xong, có người dùng giẻ bẩn hoặc giấy cứng lau chùi qua loa. Đối với trẻ em bị đi tướt, chúng ta lại càng nên chú ý đến vệ sinh, rửa ráy sạch sẽ, sau đó dùng vải mềm chấm khô và rắc bột vào các kẽ da.

Ảnh mng tính minh họa
Ảnh mng tính minh họa

Có khi trẻ bị viêm đỏ cả một vùng quanh hậu môn kèm theo nhiều vết gãi vì thấy ngứa, khó chịu, nhất là khi đi ngủ. Cần coi chừng có thể giun kim cũng là nguyên nhân của hăm kẽ. Trường hợp này cần trị giun kim mới mong lành bệnh hăm kẽ.

Việc đề phòng hăm kẽ do đó cũng rất đơn giản, chủ yếu là vệ sinh da tốt, luôn chú ý giữ kẽ da cho thoáng hơi. Mùa hè nóng bức, cần mặc quần áo thoáng mát cho trẻ, tắm rửa thường xuyên cho các cháu và chú ý đặc biệt đến các kẽ. Khi đã bị hăm kẽ, điều quan trọng là không nên cọ xát nhiều hay dùng xà phòng nhiều hoặc loại chất lượng xấu vì sự kỳ cọ và chất xà phòng sẽ kích thích da, làm cho các kẽ bị viêm tấy hơn và chứng hăm nặng hơn.

Đông y có một số bài thuốc chữa hăm kẽ bằng thảo dược rất đơn giản. Lấy lá ổi non (hoặc búp) 100 g, hay lá chè xanh 50 g, lá táo chua (táo ta) 50 g, lá xương sông 50 g (loại lá bánh tẻ, không già không non), lá trầu không 50 g, hoa kinh giới (kinh giới tuệ) khô 50 g, kim ngân hoa 30 g, hoa lài khô 30 g rửa sạch, vò nát. Sau đó, cho vào 1 lít nước đun sôi 15 phút, để nguội rồi đem rửa chỗ hăm, lau khô da bằng khăn bông.

Dưới tác dụng của chất kháng sinh thực vật, các hoạt chất sinh học và tannin có trong dược thảo sẽ diệt vi khuẩn và làm săn da, hết hăm kẽ.

Thận trọng khi sử dụng thuốc bôi ngoài da


Ảnh minh họa 
Ảnh minh họa
Hiện nay trên thị trường, thuốc bôi, thuốc dùng ngoài da cũng có rất nhiều loại của nhiều công ty dược phẩm trong nước cũng như nước ngoài. Người dân cũng có thể dễ dàng tự mua thuốc dùng từ bất kỳ nhà thuốc nào. Đây chính là điều thuận lợi cho việc dùng thuốc bừa bãi, làm gia tăng tình trạng "trơ thuốc", kháng thuốc và các phản ứng có hại của thuốc.

Các loại thuốc dùng trong da liễu

Thuốc dùng ngoài da thường gồm 2 thành phần chính là hoạt chất có tác dụng điều trị và tá dược có tác dụng vận chuyển hoạt chất, đưa hoạt chất thấm qua da. Người ta có thể chia ra một số dạng thuốc ngoài da chủ yếu như sau:

Thuốc dạng dung dịch (lotions): Là thuốc dạng lỏng, hoạt chất được pha trong tá dược thường là các dung môi lỏng thành một chất lỏng đồng đều, không vón, không kết tủa. Thuốc dạng dung dịch thường có tác dụng trên bề mặt nông, tác dụng nhanh, làm khô da, dịu da, chống viêm, giảm phù nề, giảm xung huyết, thường điều trị các tổn thương da trong giai đoạn cấp tính, chảy nước.

Ví dụ: dung dịch jarish làm khô, dịu tổn thương ướt; dung dịch milian để làm khô và diệt khuẩn... Lưu ý không dùng dạng thuốc này cho các tổn thương da khô, dày da, mạn tính vì không hiệu quả. Có những loại thuốc chỉ dùng riêng cho tổn thương da, có loại thì dùng cho niêm mạc, móng... do vậy cần sử dụng đúng mới đạt hiệu quả mong muốn.

Thuốc dạng bột (powder): Thuốc dạng bột sử dụng tá dược chủ yếu là bột thảo mộc hoặc bột khoáng chất, ví dụ: bột than, bột talc, bột kaolin... thuốc dạng bột có tác dụng làm mát da, giảm viêm, hút nước làm khô da, chống xung huyết. Thuốc bột thường dùng cho các tổn thương da viêm tấy, cấp tính, đang chảy nước.

Thuốc mỡ (ointment): Là dạng thuốc dùng ngoài da phổ biến nhất. Tá dược là vaselin, lanolin, tỷ lệ bột hoạt chất nhỏ hơn 30% trong thành phần. Thuốc mỡ làm cho thuốc hoạt chất ngấm sâu hơn vào da, làm mềm da nhưng lại gây bít da, hạn chế bài tiết qua da...

Thuốc dạng hồ (pates): Dạng thuốc có hoạt chất dạng bột chiếm tỷ lệ từ 30 - 50% thành phần. Tá dược là vaselin, lanolin. Thuốc hồ có tác dụng giảm viêm, giảm xung huyết, làm khô da và không hạn chế sự bài tiết ở da như thuốc mỡ. Thường dùng dạng thuốc này cho các tổn thương bán cấp.

Thuốc dạng kem (cream): Là loại thuốc mỡ có thêm glycerin và nước, độ ngấm thuốc vào da vừa phải. Thuốc dạng kem có tác dụng mát da, bảo vệ da, thường dùng giai đoạn tổn thương bán cấp. Ngoài ra còn một số dạng thuốc bôi ngoài da khác như: thuốc dạng dầu, thuốc để ngâm tắm, thuốc để đắp, tẩm... cũng thường được dùng trong da liễu.

Một số vấn đề cần lưu ý khi sử dụng thuốc bôi

Ngoài các lưu ý với từng loại thuốc bôi ở trên, cần phải lưu ý một số điểm sau:

- Thuốc bôi dùng ngoài da phải phù hợp không những với bệnh mà còn phải phù hợp với vị trí tổn thương, tuổi, giới, nghề nghiệp của bệnh nhân, hợp với thời tiết, mùa trong năm.

- Cần chú ý với các loại thuốc bôi kết hợp nhiều thành phần ví dụ như: các thuốc có 3 thành phần: corticoid (tác dụng chống viêm); kháng sinh (diệt khuẩn); thuốc kháng nấm (diệt nấm). Khi dùng các loại thuốc này để điều trị bệnh do một loại căn nguyên có thể dẫn đến tác dụng không cần thiết của các loại hoạt chất khác, thậm chí còn là tác dụng có hại.

- Không trộn lẫn lộn các loại thuốc vào nhau vì có thể xảy ra hiện tượng đông vón, mất tác dụng hoặc phản ứng giữa các thành phần của thuốc.

- Đối với thuốc mỡ khi dùng cần lưu ý:

+ Không được bôi thuốc trên diện rộng vì có thể gây ra hạn chế bài tiết mồ hôi, gây xung huyết, thậm chí có thể sốt. Nên chia ra mỗi vùng cơ thể bôi vào một thời điểm thích hợp, ví dụ: bôi vùng bụng buổi sáng, vùng đùi buổi chiều, vùng tay chân buổi tối...

+ Không dùng thuốc dạng mỡ điều trị các tổn thương đang ở giai đoạn cấp tính, chảy nước vì càng làm cho tổn thương nặng thêm, chảy nước nhiều hơn.

+ Các loại thuốc bôi có tác dụng tại chỗ và có thể có tác dụng toàn thân như: mỡ corticoid mạnh thì phải rất thận trọng. Không bôi lên vùng da mỏng như ở mặt, cổ... vì gây teo da, giãn mạch, Không bôi nhiều hơn 2 lần trong 1 ngày, không nên bôi kéo dài hơn 1 tuần nếu không có chỉ định của bác sĩ, không dùng cách bôi và băng bịt kín lại vì hoạt chất sẽ ngấm quá nhiều vào cơ thể gây tác dụng phụ toàn thân.

Như vậy, cũng giống như các loại thuốc khác, thuốc bôi sẽ có hiệu quả khi dùng đúng cách, đúng bệnh, đúng liều lượng. Thận trọng khi dùng thuốc, dùng theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa là nguyên tắc để tránh tác dụng phụ và các phản ứng có hại của thuốc.

 

Mẹo tránh sẹo khi có vết thương

Thật sai lầm nếu bạn bôi nghệ tươi lên vết thương để tránh sẹo, vì hậu quả là sẹo thậm chí trông còn đậm và rõ hơn.

Việc xử lý cho vết thương nhanh lành, không để lại sẹo sau tai nạn luôn là mong ước của tất cả các bệnh nhân. Những lưu ý dưới đây góp phần thực hiện ước mơ đó.
 
Nguyên nhân gây chậm lành 
 
Có nhiều loại tổn thương gây nên vết thương để lại sẹo như: vết thương do phẫu thuật, do chấn thương, vết thương mạch máu. 
 
Với vết thương do chấn thương sẽ có nhiều mức độ, từ các vết rách da, sây sát, vết bỏng nhỏ đến bỏng nặng toàn thân, mảng rách da lớn sau tai nạn... Loại này thường có nguy cơ nhiễm trùng cao. Những tổn thương nhỏ có thể tự lành sau 2-3 ngày. Vết thương lớn cần được chăm sóc thật tốt, nếu không sẽ dẫn tới hoại tử, lâu lành. 
 
Vết thương do phẫu thuật là loại tổn thương được chuẩn bị, xảy ra trong môi trường y tế đặc biệt, vết thương được làm sạch, cầm máu tốt, bờ đều đặn. Nếu không có những yếu tố khác tham gia, loại vết thương này thường chóng lành và không cần can thiệp. 
 
Vết thương mạch máu thường có nguyên nhân bệnh lý nhất định, như khối u chèn ép, viêm tắc mạch khiến tổ chức không được tưới máu nuôi dưỡng, dẫn đến hoại tử khô hoặc loét tại chỗ. Các bệnh lý da biểu hiện dưới nhiều dạng như ban ngoài da, sẩn ngứa, bọng nước.

Chuẩn bị cắt lọc vết thương cho bệnh nhân bỏng tại Viện Bỏng Quốc gia.
Ảnh: Thanh An

Nguyên nhân các vết thương chậm lành có thể do không được làm sạch đúng cách (khi vết thương bị vấy bẩn quá nhiều, hoặc vết thương ngoằn ngoèo, sâu), cơ thể không thể tự làm sạch, lúc đó vết thương không mọc được các mô hạt thay thế và không sẹo hóa được. Hoặc có thể do vết thương bị nhiễm trùng, cơ thể không làm sạch ngay được vết thương bởi hoạt động của các vi khuẩn.
 
Vi khuẩn có thể từ bên ngoài đưa vào, hoặc do băng bó không đảm bảo vô trùng, hoặc từ các vùng khác lan đến. Một nguyên nhân khác dẫn đến vết thương lâu liền sẹo có thể do vết thương không được tưới máu đầy đủ, thiếu dinh dưỡng, oxy.
 
Bôi nghệ làm sẹo đậm hơn  
Để sẹo liền nhanh, vết thương phải được đảm bảo vệ sinh thật tốt, rửa vết thương bằng thuốc sát trùng, nếu không có thể dùng nước đun sôi để nguội. Nên rửa nhiều lần cho đến khi vết thương được làm sạch hoàn toàn. Không được vì sợ đau hay vội vã mà bỏ qua giai đoạn này, bởi nó sẽ quyết định quá trình lành sẹo. 
 
Sau khi làm sạch, có thể băng vết thương bằng gạc mỏng, sạch, không nên băng kín vì có thể làm nhiễm trùng nặng lên. Đối với các vết thương to, vấy bẩn nhiều hay vết bỏng nặng, phải đến cơ sở y tế để kiểm tra và xử trí đầy đủ. Tuyệt đối không được tự ý bôi đắp hay uống thuốc vì có thể dẫn tới những biến chứng như dị ứng, hoại tử vết thương, bội nhiễm, nhiễm trùng huyết. Ngoài ra, việc dùng thuốc không đúng cách sẽ để lại sẹo xấu. 
 
Điều đặc biệt lưu ý là theo quan niệm của nhiều người, vùng da bị tổn thương được bôi nghệ tươi càng sớm thì giảm được nguy cơ để lại vết thâm, vết sẹo. Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn không như vậy bởi đối với vết thương chưa mọc da non nếu bôi nghệ vào có thể làm vết sẹo sau này đen bóng lại, tô đậm dấu ấn của sẹo. Nếu cơ địa bị dị ứng với nghệ sẽ làm vết thương thêm trầm trọng, thậm chí sẽ làm loét vùng da non tại vết thương. 
 
Khi bị thương nên hạn chế đi ra nắng từ 9h sáng đến 15h để tránh ánh sáng chiếu trực tiếp vào vết thương.
 

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons