Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

Chữa mụn cơm, mụn cóc bằng tía tô

Trong dân gian lưu truyền rất nhiều kinh nghiệm chữa trị mụn cơm, mụn cóc. Có một cách chữa trị mụn cơm, mụn cóc (đặc biệt là mụn cóc) rất hay, vô cùng đơn giản, hiệu quả lại dễ thực hiện đối với mọi lứa tuổi. Chỉ cần vò nát (hoặc giã nát) lá và cuộng tía tô, đắp lên mụn cóc. 



Có thể dùng vải để quấn chặt hoặc dùng băng dính cố định chỗ đắp. Hiệu quả nhất là làm vào buổi tối trước khi đi ngủ để tránh nước hoặc các hoạt động làm xô lệch chỗ đắp. Làm liên tục như vậy trong vài tuần, bạn sẽ thấy các mụn cóc se nhỏ lại. 

Đặc biệt phải chú ý đắp đúng vào mụn cái (thường có một mụn cái chính, rồi mọc các mụn con xung quanh), miệng mụn sẽ dần se lại, teo nhỏ rồi mất hẳn. Mụn cái chính mất đi, các mụn con xung quanh một thời gian sau cũng tự nhiên biến mất. Da sẽ trở lại mịn màng, không chút dấu vết gì của mụn cơm, mụn cóc.

Bài thuốc trị chốc đầu ở trẻ


Bồ kết
Bệnh phát sinh khi thời tiết nóng bức, điều kiện ăn ở không sạch sẽ. Biểu hiện là da đầu mọc nhiều mụn lở, thường có mủ và viêm loét kéo dài làm cho trẻ bứt rứt, ngứa ngáy khó chịu, quấy khóc, ăn uống kém, cơ thể mệt mỏi. Nếu không được chữa trị kịp thời, bệnh sẽ gây biến chứng viêm cầu thận. Đông y có một số bài thuốc đơn giản trị chốc đầu:

Bài 1: Bồ kết khô 8 quả, gừng tươi 1củ (7g), lá chè xanh già 25g nấu lấy nước đặc gội đầu cho trẻ. Sau đó, dùng 3 quả bồ kết khô, 10g nghệ tươi rang giòn, tán nhỏ rắc lên vùng chốc lở. Cũng có thể lấy hạt mùi tán nhỏ trộn với dầu vừng bôi lên. Mỗi ngày làm 1 lần, thực hiện trong 7 ngày.
Bài 2: Bồ công anh 15g, rau má 25g, kim ngân hoa 15g, hạ khô thảo 10g, hoa kinh giới 10g. Sắc với 500ml nước còn 150ml, uống thay nước hàng ngày. Dùng trong 5 - 7 ngày. Trường hợp trẻ còn bú, cho cả mẹ và con cùng uống.
Bài 3: Hành hoa 30g, rửa sạch giã nát, trộn với một ít mật ong (hoặc mật mía) thành dạng như bột nhão rồi đắp lên vùng chốc lở trong 10 - 15 phút. Ngày đắp 2 lần. Sau 2 lần đắp, dùng nước đun từ lá trầu không gội cho sạch. Dùng liên tục trong 5 ngày.
Lưu ý: Khi đắp lên vùng chốc phải quấn khăn (hoặc băng lại) để tránh nước thuốc chảy xuống mắt dễ gây bỏng và không áp dụng bài thuốc này cho trẻ dưới 12 tháng tuổi.
Bài 4: Sài đất tươi 100g, rửa sạch, đun lấy nước gội đầu, tắm hàng ngày cho trẻ. Dùng trong 5 ngày, bệnh chốc sẽ khỏi. Hoặc dùng lá đào tươi 100g, nấu nước gội đầu, rồi giã nát quả mướp đắng bôi lên vùng đầu bị chốc. Thực hiện trong 5 - 7 ngày.
Bài 5: Lá tía tô tươi 100g, rửa sạch giã nát vắt lấy nước gội đầu hàng ngày cho trẻ. Hoặc lá tía tô tươi, sài đất tươi mỗi vị 50g, rửa sạch đun lấy nước, để ấm gội đầu và tắm cho trẻ hàng ngày. Dùng trong 3 - 5 ngày. 
Theo BS Phạm Văn Tuân - Sức

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

6 dấu hiệu cần khám da liễu

Khi nói đến da, tóc và móng tay, có những dấu hiệu nhất định bệnh lý mà bạn không nên bỏ qua. Theo tư vấn của các bác sĩ, chúng bao gồm 6 biểu hiện sau.

1. Bỗng nhiên đổ mồ hôi rất nhiều hoặc da quá khô
Bạn có thấy rằng gần đây bạn toát mồ hôi nhiều hơn bình thường hoặc ngược lại, làn da của bạn trở nên rất khô? Nếu có, bạn có thể bị mất cân bằng nội tiết tố.
Tiết mồ hôi quá nhiều hay bệnh nhiều mồ hôi thường do các vấn đề về tuyến giáp, tiểu đường hoặc nhiễm trùng khác. Tình trạng da khô cũng vậy. Nguyên nhân có thể là một vấn đề liên quan đến tuyến giáp hoặc sự phát triển của vô số bệnh da liễu khác nhau như vảy nến hay eczema.
Ngoài ra, việc sử dụng kem dưỡng ẩm không đúng loại cũng có thể làm da bị khô. Khi có tuổi, da của bạn có xu hướng khô hơn, do đó, nó cần một loại kem dưỡng ẩm đậm đặc hơn.
2. Phát ban
Nhiều người có xu hướng bỏ qua dấu hiệu phát ban và cho rằng các nốt ấy sẽ tự biến mất. Thế nhưng, càng chờ đợi, bệnh càng khó chẩn đoán hơn! Chính vì thế, theo các chuyên gia, bạn cần đi khám da liễu ngay khi có biểu hiện. 
3. Tóc rụng nhiều
Rụng tóc bị ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền nhưng nó cũng có thể liên quan đến một số bệnh ngoài da. Tùy theo từng trường hợp, các bác sỹ sẽ có chỉ định các xét nghiệm y khoa thông qua sinh thiết hoặc xét nghiệm máu.
4. Xuất hiện nhiều tàn nhang hoặc nốt ruồi
Bạn có nhìn thấy các đốm tàn nhang hoặc nốt ruồi phát triển to hơn không? Nếu đúng, tốt nhất bạn nên khám bác sĩ da liễu bởi dấu hiệu đó có thể liên quan đến bệnh ung thư da.
5. Bạn đã bao giờ khám kiểm tra da
Ung thư da ảnh hưởng đến 1 trong 5 người Mỹ và nó không phân biệt tuổi tác và chủng tộc. Vậy nên, nếu bạn chưa bao giờ khám kiểm tra da thì đây là một ý tưởng tốt để thực hiện ngay bây giờ. Bác sĩ da liễu không chỉ kiểm tra mà còn có thể tư vấn thêm cho bạn cách chăm sóc và duy trì để có làn da khỏe đẹp.
6. Móng tay ngả vàng hoặc dễ gãy
Dù bạn có tin hay không thì móng tay bị vàng hoặc giòn thường do nhiễm nấm. Vì vậy, nếu được khám sớm, các bác sĩ sẽ giúp bạn xử lý vấn đề bằng thuốc uống hoặc bôi tại chỗ. Bên cạnh đó, thiếu protein và độ ẩm cũng có thể dẫn đến tình trạng này.


Thực phẩm và những vấn đề về dị ứng

Vài nét về dị ứng thức ăn
Ở Mỹ và Anh dị ứng thức ăn (qua trung gian IgE) gây bệnh cho trẻ em khoảng 8%, trong khi đó với người lớn tỷ lệ này vào khoảng 3%.
Ở nước ta, cho tới hiện nay chưa có một số liệu thống kê chính xác nhưng dị ứng thức ăn cũng là một trong các cấp cứu thường gặp.
Thức ăn hay gây dị ứng là sữa bò, trứng, lạc, vừng, đậu nành, lúa mỳ, hạt quả cứng, kiwi, táo, cà rốt, cá, nghêu, sò, tôm, cua...
Mỗi độ tuổi hay bị dị ứng với một loại thức ăn nhất định, có thể kéo dài nhưng cũng có thể khỏi ở một độ tuổi nào đó: Dị ứng có thể xảy ra với trẻ từ 1-7 tuổi với hạt quả cứng, 6-36 tháng tuổi với hạt mè, tuổi trưởng thành với nghêu sò, tôm, cua, cá. Trong khi đó, trẻ em 6 - 24 tháng tuổi thường bị dị ứng lòng trắng trứng gà, sữa bò, lúa mỳ, đậu nành; và đa phần sẽ khỏi khi lớn hơn 2 tuổi, tùy theo từng loại dị nguyên.
Dị ứng thức ăn còn lưu hành theo từng địa phương. Nếu dị ứng trứng gà, sữa bò gặp hầu hết trên thế giới, thì dị ứng mù tạt hay gặp ở Pháp, hạt vừng lại thường gặp ở Israel, dị ứng cá hay gặp ở các nước ăn nhiều cá ngừ trong đó có nước ta.
Thực phẩm và những vấn đề về dị ứng 1

Dị ứng thức ăn là phản ứng dị ứng miễn dịch của cơ thể với các dị nguyên chứa trong thức ăn. Hiện nay tỉ lệ người dị ứng với thức ăn ngày càng tăng. Dị ứng với thức ăn xuất hiện sớm ở những người có cơ địa viêm da dị ứng (viêm da atopy). Cơ chế phản ứng dị ứng thường thông qua kháng thể IgE và ít gặp hơn là qua các cơ chế khác.
Nguyên nhân và những yếu tố nguy cơ
Có nhiều yếu tố nguy cơ gây dị ứng thức ăn như: protein và các phân tử không thay đổi khi đi vào tuần hoàn; hệ miễn dịch tại ruột và tính miễn dịch của niêm mạc ruột; một số chất gây tăng tính thấm của niêm mạc ruột như rượu, aspirin, nhiễm virut, ký sinh trùng, nấm; sau khi ăn thức ăn gây dị ứng mà làm công việc gắng sức có thể dẫn đến sốc phản vệ...
Một số loại thức ăn có chứa dị ứng nguyên có thể gây dị ứng cho người ăn như: gạo, khoai tây, đậu, lạc, cá, trứng, sữa, rau, quả,... dị nguyên thức ăn là các glycoprotein có trọng lượng phân tử từ 10-70 kD.
Y học ngày nay đã biết đặc điểm của một số dị nguyên thức ăn thường gặp như sau:
Protein trong sữa bò chủ yếu gây dị ứng ở trẻ em, với các triệu chứng ở đường tiêu hóa, hô hấp, ngoài da, có bốn loại hay gây dị ứng là: Casein, b-lactoglobulin, b-lactalbumin, Immunoglobulins;
Dị nguyên ở cá có đặc tính chịu nhiệt độ cao, triệu chứng xuất hiện sớm, chỉ vài phút sau khi ăn như sốc phản vệ, phù Quinck, nổi mề đay;
Dị nguyên trứng có thành phần là: ovomucoid không bị nhiệt phân và ovalbumin dễ bị nhiệt phân cả hai loại đều có ở lòng trắng;
Bột mì có tới 20 loại dị nguyên có thể gây dị ứng ở người; các loại đậu, lạc khi nấu chín ăn vào rất hay gây sốc phản vệ.
Một số nghiên cứu còn cho thấy cách chế biến món ăn ảnh hưởng đến tính dị nguyên thức ăn như: có những dị nguyên bị phân hủy ở nhiệt độ cao khi nấu nướng; ngược lại có dị nguyên lại tăng tác dụng khi gặp nhiệt độ cao như lạc; dị nguyên của táo tăng lên khi bảo quản lâu; thực phẩm biến đổi gen có nguy cơ tiềm tàng gây dị ứng.
Biểu hiện như thế nào?
Dấu hiệu dị ứng thức ăn thường rất đa dạng: có thể là biểu hiện biểu hiện ngoài da nhẹ như nổi mề đay, viêm da atopy; hoặc biểu hiện ở bộ máy hô hấp như viêm mũi, hen phế quản; dị ứng tiêu hóa với các triệu chứng: nôn, tiêu chảy, táo bón, trào ngược dạ dày thực quản.
Nhưng cũng có thể biểu hiện nặng là phản ứng sốc phản vệ với các triệu chứng rầm rộ: nghẹt thở, cảm giác sắp chết, tay chân lạnh, da nhợt nhạt, toát mồ hôi, huyết áp tụt, mất tri giác... Đa số là phản ứng phản vệ 1 pha, xảy ra ngay sau khi ăn do các do nguyên nhân hấp thu nhanh. Song có 6% trường hợp là phản ứng phản vệ 2 pha, pha sau xảy ra muộn (4-12 giờ) sau khi ăn, do các dị nguyên hấp thu chậm (khoảng 90% trường hợp). Trong số phản ứng phản vệ 2 pha thì có 50% trường hợp rất nặng, liên quan đến tử vong.
Biểu hiện dị ứng thức ăn thay đổi theo các độ tuổi: viêm da atopy gặp nhiều ở trẻ em từ 0 - 15 tuổi; hen phế quản lại thường thấy ở lứa tuổi học sinh và thanh niên; sốc phản vệ chiếm tỷ lệ cao hơn các triệu chứng khác ở bệnh nhân trên 30 tuổi. Ngoài ra dị ứng thức ăn còn có biểu hiện bởi các triệu chứng khác như: đau đầu, đau cơ, hội chứng thận hư, viêm đại tràng, hội chứng đại tràng kích thích...
Triệu chứng xét nghiệm thường làm gồm: test bì được làm với thức ăn nghi ngờ gây dị ứng, kết quả dương tính nếu da bị đỏ, sưng và ngứa ở vùng da có đường kính trên 10mm, tuy nhiên xét nghiệm này chỉ cho kết quả dương tính thật khoảng 44%; xét nghiệm miễn dịch tìm IgE đặc hiệu RAST, ELISA nhằm phát hiện loại thực phẩm gây dị ứng, kết quả dương tính thật của các xét nghiệm này khoảng 56%.
Các phương pháp điều trị và phòng tránh
Muốn điều trị dị ứng thức ăn có hiệu quả cần điều tra tỉ mỉ chế độ ăn của bệnh nhân. Thực hiện một chế độ ăn loại trừ được các thức ăn gây dị ứng là một biện pháp điều trị có hiệu quả trong hầu hết các ca bệnh. Cần chú ý loại trừ các loại thức ăn có các dị nguyên ngụy trang. Biện pháp này cần thực hiện nghiêm túc với sự phối hợp của chuyên gia dị ứng, chuyên gia về dinh dưỡng, và sự hợp tác chặt chẽ của bệnh nhân trong thời gian dài.
Nếu đã có dấu hiệu bị dị ứng thức ăn cần sơ cứu: chườm đắp nước ấm, uống nhiều nước, uống thuốc kháng histamin, nhanh chóng đưa bệnh nhân đi khám ở bệnh viện.
Nếu bị sốc phản vệ đe dọa tính mạng bệnh nhân với các triệu chứng sau: xảy ra sau khi ăn 5-15 phút, thấy nghẹt thở, cảm giác sắp chết, tay chân lạnh, da nhợt nhạt, toát mồ hôi, huyết áp tụt, mất tri giác, gọi hỏi không biết... cần hô hấp nhân tạo, xoa bóp tim ngoài lồng ngực (nếu có ngưng thở, ngưng tim), khẩn cấp chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất để cứu chữa, vì điều trị càng sớm và hiệu quả thì cơ hội sống sót của bệnh nhân càng cao.
Một số thuốc dùng trong dị ứng thức ăn
Dùng thuốc nhằm hủy các triệu chứng dị ứng, quan trọng nhất là chống các phản ứng phản vệ.
Thường dùng 4 loại thuốc: epiephrin, kháng histamin, chống co thắt phế quản, corticoid hít hay toàn thân.
Epinephrin
Có vai trò nâng cao huyết áp, chống suy tim trụy mạch cấp.
Phải dùng sớm: tiêm bắp nhanh trong vòng ít phút sau khi phản ứng dị ứng xảy ra. Dùng muộn dễ dẫn đến gia tăng dạng phản ứng phản vệ 2 pha, gia tăng tỷ lệ tử vong (theo Lee JM-2000). Nếu phản ứng phản vệ nặng, cần phải dùng tại bệnh viện và theo dõi chặt chẽ.
Kháng histamin
Dùng các kháng histamin có tác dụng nhanh để loại bỏ nhanh các triệu chứng dị ứng. Có thể dùng kháng histamin thế hệ cũ (chlopheniramin, alimerazin, cycloheptadin, meclizin, cyclizin). Với trẻ em không được dùng prometazin (cấm dùng cho trẻ em 2 tuổi, trẻ trên 2 tuổi chỉ dùng liều thấp nhất có hiệu quả).
Hoặc các kháng histamin thế hệ mới (cetirizin, acrivastin, loratidin). Không được dùng các kháng histamin thế hệ mới terfenadin và astemizol vì hai thuốc này gây hiện tượng xoắn đỉnh. Không dùng cho trẻ em dưới 2 tuổi, riêng loratidin, ceritidin không dùng cho trẻ em dưới 6 tuổi, thận trọng khi dùng cho người có chức năng gan thận suy giảm.
Thuốc chống co thắt phế quản
Đa phần người dị ứng thức ăn, đặc biệt ở người có bệnh hen thường bị hen, phù thanh quản: Thông thường phải dùng thuốc kích thích thụ thể beta-2 (chủ vận beta-2) dạng hít (như salbutamol, salmeterol), có kết hợp với corticoid hít (như beclomethazon, fluticazon) hoặc có thể dùng loại ống hít phối hợp hai chất này (seretide). Nếu người bệnh có biểu hiện khó thở nặng cần cho thở oxygen.
Coticoid hít hay toàn thân
Corticoid được dùng để giảm cơn co thắt (dạng hít, như nói trên) dùng phòng phản ứng phản vệ muộn (dạng uống). Corticoid (đặc biệt là corticoid uống) có nơi đưa vào thường quy xử trí dị ứng thức ăn nhưng có nơi không coi là điều bắt buộc.


Thuốc trị rôm sảy

Tổn thương da thường là các mụn nước, các sẩn màu đỏ, nhỏ như đầu đinh ghim hoặc lớn hơn một chút. Các mụn nước, sẩn thường tập trung thành đám trên nền da đỏ. Đôi khi có các mụn rải rác toàn thân. Thường thì bệnh nhân cảm thấy bị ngứa trên da và gãi, vì thế tổn thương da xuất hiện. Bệnh nhân bị ngứa nhiều và ngứa tăng khi trời nóng, uống bia rượu, ăn các thức ăn như: tôm, cua, nhộng, đồ rán, ăn hoa quả nhiều đường như mít, vải... Càng gãi thì ngứa càng tăng. Thường thì tổn thương da chỉ chứa dịch trong nhưng nếu bệnh nhân gãi nhiều thì có thể bị nhiễm khuẩn và các mụn mủ xuất hiện.
Thuốc trị rôm sảy 1
Có thể bôi các chế phẩm làm mát, dịu da như jarish, hồ nước ngày 2 lần trong 1 - 2 tuần. Nếu không đỡ hoặc tổn thương da có viêm đỏ nhiều thì phải bôi một trong các chế phẩm có steroid như: eumovate, tramsone cho các bé dưới 1 tuổi, bôi fobancort hoặc fucicort cho các bé trên 1 tuổi, bôi flucinar, gentrisone, diprosone cho người lớn. Chỉ bôi ngày 1 lần trong 5 - 7 ngày. Nếu ngứa nhiều có thể cho các bé dưới 1 tuổi uống sirô phenergan 1%o một lần vào buổi tối trong 5 - 7 tối, các em bé trên 1 tuổi có thể uống siro theralene một lần vào buổi tối trong 5 - 7 tối. Người lớn có thể uống một trong các thuốc kháng histamin như: phenergan hoặc loratadin uống tối trong 5 - 7 ngày. Khi tổn thương da có mủ, viêm nhiều thì phải được bác sĩ chuyên khoa da liễu theo dõi và điều trị tích cực.

Nhận biết viêm thành mạch dị ứng

Viêm thành mạch dị ứng là một bệnh gặp chủ yếu ở trẻ em hoặc người trẻ tuổi, rất ít khi gặp ở người cao tuổi, bệnh thường thứ phát và mang tính chất cấp tính.

Bệnh viêm thành mạch dị ứng đã được phát hiện năm 1874 bởi Henoch và được mô tả chi tiết bởi Schoenlein vào năm 1941, vì vậy còn được gọi là bệnh Choenlein - Henoch. 
Biểu hiện của bệnh viêm thành mạch dị ứng
Biểu hiện xuất huyết của bệnh viêm thành mạch dị ứng khác hẳn với bệnh SXHD. Viêm thành mạch dị ứng chủ yếu là xuất huyết dưới da. Xuất huyết dưới da có các đặc điểm nổi trội là xuất huyết tự nhiên không liên quan tới tác động cơ học và hiện tượng xuất huyết tăng nặng khi đi lại nhiều và đứng lâu.
Đặc điểm của xuất huyết là nốt xuất huyết thường nhỏ, có màu đỏ, ít khi thành các nốt lớn hoặc ít khi nốt xuất huyết thành từng mảng, từng đám hoặc máu tụ. Vị trí xuất huyết thường dưới da tứ chi, tập trung nhiều nhất ở các đầu chi. Sự xuất huyết dưới da ở chi đối xứng hai bên (khác hoàn toàn với SXHD). Một điểm cần chú ý là xuất huyết dưới da của bệnh viêm thành mạch dị ứng rất ít khi gặp ở thân mình, đầu, mặt hoặc cổ (khác với bệnh SXHD là xuất huyết dưới da ở bất cứ vị trí nào của da). Màu sắc của các nốt xuất huyết là đỏ và đồng đều như nhau.
Trong giai đoạn bệnh đang tiến triển, có thể làm phản ứng dây thắt dương tính (giống với SXHD). Trong một số trường hợp, bệnh viêm thành mạch dị ứngcó thể gây nên cả xuất huyết niêm mạc nội tạng như xuất huyết đường tiêu hóa kèm theo đau bụng. 
Biểu hiện của xuất huyết đường tiêu hóa là đau bụng, đi ngoài phân đen, đo huyết áp có thể thấy huyết áp dưới mức bình thường, kèm theo hoa mắt chóng mặt lúc ngồi xuống, đứng lên; niêm mạc môi, mắt nhợt nhạt. Một số trường hợp có tổn thương mao mạch cầu thận gây nên hiện tượng đái máu vi thể (soi cặn nước tiểu bằng kính hiển vi quang học thấy có hồng cầu) nhưng rất ít khi thấy đái máu đại thể (mắt thường có thể nhìn thấy nước tiểu có màu đỏ).
Ngoài ra, một số trường hợp có thể thấy hiện tượng đau nhức khớp gối, khớp cổ chân. Biến chứng của bệnh viêm thành mạch dị ứng có thể là viêm cầu thận mạn hoặc trong trường hợp viêm thanh mạc ruột có thể gây thủng ruột do hoại tử nhưng các loại biến chứng này rất ít gặp. 
Vì vậy, bệnh viêm thành mạch dị ứng cần phân biệt với bệnh SXHD. SXHD bao giờ cũng có sốt và xuất huyết dưới da ở bất kỳ vị trí bộ phận nào trên cơ thể do giảm tiểu cầu. SXHD xảy ra chắc chắn phải có virut Dengue và muỗi Aedes aegypti, Aedes albopictus truyền bệnh. Còn viêm thành mạch dị ứng không do virut Dengue và không có vật chủ trung gian truyền bệnh. Viêm thành mạch dị ứng chủ yếu ở chi (nhiều nhất ở đầu các chi), đối xứng hai bên.
Khi bị viêm thành mạch dị ứng nên làm gì?
Do nguyên nhân gây bệnh khác nhau nên phác đồ điều trị bệnh viêm thành mạch dị ứng khác hoàn toàn với phác đồ điều trị bệnh SXHD. Để bệnh không tái phát, cần tìm nguyên nhân gây bệnh, đó là dị ứng nguyên hoặc tác nhân gây nhiễm khuẩn. Qua đó để hạn chế hoặc không tiếp xúc với dị ứng nguyên và nếu do nhiễm khuẩn thì sẽ có biện pháp xử trí thích hợp. Việc xác định dị ứng nguyên sẽ được thực hiện tại khoa dị ứng hoặc trung tâm dị ứng của các cơ sở y tế có đủ điều kiện.
Vì vậy, khi nghi bị viêm thành mạch dị ứng nên đi khám bệnh càng sớm càng tốt, không nên tự chẩn đoán bệnh cho mình hoặc người thân và không tự mua thuốc để điều trị. Nếu làm như vậy, bệnh không những không khỏi mà có thể nặng thêm, đôi khi gây nguy hiểm cho tính mạng, đặc biệt là dùng các loại corticoid
Điều trị bệnh viêm thành mạch dị ứng chủ yếu dựa vào chống dị ứng, bảo vệ thành mạch, nếu xuất huyết gây thiếu máu nhiều sẽ có chỉ định bổ sung hồng cầu hoặc nếu có dấu hiệu nhiễm khuẩn sẽ được dùng kháng sinh điều trị. Tuy vậy, cần dùng thuốc gì và trong thời gian bao lâu là do bác sĩ khám bệnh trực tiếp chỉ định, người bệnh cần tuân theo chỉ dẫn và thực hiện theo đơn của bác sĩ.
Bên cạnh đó, người bệnh cần nghỉ ngơi, tránh đi lại nhiều và không nên đứng lâu. Nên ăn uống đủ chất, nhất là các loại thức ăn và quả tươi có chứa nhiềuvitamin C, cần kiêng các loại thực phẩm gây dị ứng cho bản thân mình đã từng xảy ra.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons