Thứ Ba, 18 tháng 8, 2015

Những dấu hiệu bệnh tật khi da đổi màu

Triệu chứng bên ngoài của da nhìn đơn giản nhưng có thể là biểu hiện của bệnh lý phức tạp.

Ảnh minh họa
 
Da có nhiệm vụ bao phủ, bảo vệ các cơ quan bên trong. Song, da và các cơ quan nội tạng bên trong có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
 
Một số biểu hiện bên ngoài có thể chỉ là bệnh da đơn thuần hoặc có thể xem như dấu hiệu báo trước hay là biểu hiện của bệnh nội khoa, như: các chấm xuất huyết, các vết bầm máu ở da có thể là dấu hiệu của bệnh lý về máu; vàng da do tắc mật, bệnh gan; sạm da toàn thân có thể do bệnh của tuyến thượng thận...
Do vậy, những thay đổi bên ngoài của da có thể phản ánh tình trạng sức khỏe của cơ thể. Sau đây là một số thay đổi màu sắc da thường gặp:
* Dát giảm hay mất sắc tố (màu trắng): có thể gặp trong các bệnh như:
- Bạch biến
- Lang ben
- Vảy phấn trắng alba
- Bệnh phong
- Giảm sắc tố trong một số nghề nghiệp như phải mang găng lâu ngày
- Tiếp xúc với một số hóa chất có chứa Phenol, Quinon
- Giảm sắc tố sau một số bệnh như chàm, vảy nến, bệnh Zona...
* Dát tăng sắc tố (màu nâu, đen):
- Sạm da (nám)
- Tăng sắc tố sau một số bệnh: mụn, chàm...
- Tăng sắc tố sau khi sử dụng một số thuốc: nhóm cycline, Methotrexate
- Hồng ban sắc tố cố định: thường liên quan đến dị ứng thuốc
* Dát màu hồng, đỏ:
- Ban xuất huyết
- Phát ban do virut
- Phát ban do thuốc
- Ban đào (bệnh giang mai II)
- Bệnh vảy phấn hồng
- Bệnh luput đỏ...
* Dát màu vàng:
- Ban vàng Xanthelasma: liên quan đến tình trạng tăng cholesterol máu
- Lan tỏa khắp người như lắng đọng bất thường các chất: caroten, bilirubin...

Triệu chứng bên ngoài của bệnh da nhìn đơn giản nhưng có thể là biểu hiện của bệnh lý phức tạp. Do đó, khi gặp bất cứ triệu chứng gì bất thường trên da, bạn cần đi khám bệnh sớm. Khám bệnh sớm có thể phát hiện một số bệnh lý tiềm tàng, nếu không can thiệp sớm có thể gây tác hại nặng nề cho cơ thể.


Bệnh do nấm - Dùng thuốc thế nào?

Ở những người bệnh suy giảm miễn dịch nấm có thể phát tán vào các hạch bạch huyết, gan, não và có thể gây tử vong.

Người ta ước tính có tới hơn 90.000 loài nấm phân bố ở khắp mọi nơi, bất kỳ chỗ nào chúng ta cũng có thể gặp vi nấm. Vi nấm được xem là thực vật bậc thấp và phân biệt với các thực vật khác ở chỗ chúng không có chất diệp lục, nên phải sống hoại sinh hoặc ký sinh. Tuy có rất nhiều loài nhưng chỉ có một số nấm gây bệnh cho người hoặc động vật, thực vật.
Dựa vào hình thái cơ bản có thể chia vi nấm làm 2 loại: nấm men (có dạng tế bào men hình tròn hay bầu dục) và nấm mốc. Nấm mốc là những vi nấm đa bào phát triển thành dạng sợi tơ nhỏ, phân nhánh, phát triển thành sinh khối có thể thấy được bằng mắt thường.
Một số bệnh nấm thường gặp
- Bệnh do nấm Aspergillus (Aspergillosis): Thường là do nấm A. fumigatus, A. flavus và A.niger thường gây bệnh ở đường hô hấp và mắt, cũng có khi là tim, thận, xương, não, gan.
- Bệnh do nấm Blastomyces gây bệnh ở da, phổi, xương, hệ sinh dục - tiết niệu.
- Bệnh do nấm Candida spp: Đó là loài nấm men thường có ở ống tiêu hóa, miệng, âm hộ. Khi cơ thể suy nhược (do tổn thương ở da, bệnh đái tháo đường, có thai, suy giảm miễn dịch) thì chúng sẽ gây bệnh. Bệnh do nấm Candida spp (C.albicans, C. glabrata…) có thể ở nông, ở sâu hoặc lan tỏa.
- Bệnh nấm da: Có khoảng 40 loại nấm da đã biết, gây ra bởi các loại nấm như: Epidermophyton, Microsporum, Trichophyton… Chúng thường gây ra ở các vị trí da tay, chân (kẽ chân, nấm kẽ) da đầu, râu, tóc, các móng tay chân, quanh miệng, các vị trí ngoài da khác nhau trong thân thể.
 
Bệnh nấm da rất phổ biến, rất dễ xảy ra ở vùng khí hậu nhiệt đới như ở nước ta. Có khoảng 10% dân số thế giới bị nhiễm nấm da. Thông thường, bệnh nấm da không gây hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, ở những người bệnh suy giảm miễn dịch nấm có thể phát tán vào các hạch bạch huyết, gan, não và có thể gây tử vong.
Thuốc chống nấm
Nhóm thuốc này thường được chia làm 2 loại: các loại hóa chất chống nấm như các dẫn xuất của imidazol (clotrimazol, ketoconazol, miconazol…), các triazol (fluconazol) các allylamin (naftifin) và một số hợp chất khác. Các thuốc kháng sinh chống nấm: amphotericin B, griseofulvin, nystatin.
Nói chung, việc điều trị bệnh nấm là cần phát hiện sớm, điều trị kịp thời sẽ rất hiệu quả. Với nấm Candida điều trị bằng hóa chất hoặc kháng sinh kháng nấm, điều trị tại chỗ (thuốc mỡ, kem bôi) hoặc uống, hoặc tiêm, tùy tình trạng bệnh, vị trí bệnh và sự dung nạp của từng người bệnh.
Bệnh nấm da loại nhẹ và hạn chế ở từng vùng của da có thể điều trị tại chỗ bằng những loại thuốc cổ điển (acid benzoic, tím gentian…) hoặc các dẫn chất imidazol bôi tại chỗ, các hợp chất khác (acid undecylenic, tolnaftat…) cũng thường được dùng.
Trong trường hợp bệnh nấm da nặng, lan tỏa điều trị tại chỗ ít tác dụng thì có thể dùng các thuốc uống dẫn xuất imidazol (ketoconazol, clotrimazol, miconazol…) hoặc kháng sinh chống nấm loại uống. Những trường hợp bệnh nặng (do nấm Aspergillus, Blastomyces) gây tổn thương ở các tạng phủ thì cần điều trị sớm bằng kháng sinh chống nấm amphotericin B (ambisome, amphocydin, fungilin…) loại tiêm tĩnh mạch, itraconazol uống.
Hiện nay, việc điều trị bệnh nhiễm vi nấm nói chung, kể cả bệnh nấm toàn thân đã có nhiều loại thuốc chữa có kết quả rất tốt. Song điều cần thiết là phải phát hiện bệnh kịp thời, chẩn đoán đúng và điều trị đúng cách.

Trị viêm da cơ địa ở trẻ sơ sinh

Viêm da cơ địa, còn gọi là chàm thể tạng hay lác sữa, là một dạng viêm da dị ứng mãn tính, thường xuất hiện ở trẻ em.

Bệnh viêm da cơ địa ở trẻ sơ sinh dân gian thường gọi là “cứt trâu”. Viêm da cơ địa ở trẻ sơ sinh có biểu hiện là các đám sần đỏ, mụn nước ở hai má hoặc các tổn thương sần trên đầu với nhiều vảy tiết màu vàng ẩm ướt hoặc màu nâu xám khô. Khi lấy hết những vảy da thì nền da ở dưới có màu đỏ, tiết dịch hoặc khô.
 
Đó là tình trạng viêm da phía dưới lớp vảy. Bệnh hay phát từ 2-4 tháng tuổi sau sinh. Bệnh nhân có thể chỉ bị viêm trên da đầu hoặc chỉ bị viêm da ở mặt hoặc cả hai vị trí. Đôi khi còn có thêm các đám viêm da khác trên cổ và thân mình. Các cháu thường bị ngứa.
 
Ảnh minh họa (nguồn Internet)
Về điều trị: Trước tiên cần chăm sóc da đầu đúng cách: Không chà xát để làm bong vảy, không cạy vảy vì có thể làm viêm da nặng lên. Gội đầu cách 1 ngày 1 lần. Bôi mỡ salicylic 3% trước khi gội 4 giờ. Dưới tác dụng của thuốc khi gội đầu vảy sẽ bong ra rất dễ dàng. Khi hết vảy thì không bôi mỡ salicylic nữa. Có thể sử dụng saforel hoặc physiogel hoặc nước chanh hòa loãng để gội đầu.
Bôi thuốc: Tại chỗ có thể bôi một trong các chế phẩm có chứa corticoid hoạt phổ nhẹ như eumovate bôi ngày 1 lần trong 5-7 ngày. Bôi kem hoặc mỡ fucidic acid 2%, bôi ngày 1 lần trong 1-2 tuần.

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015

Làm gì để không phải khó chịu vì ghẻ?

Bệnh ghẻ là do Sarcoptes scabiei gây nên. Điều khó chịu nhất khi bị ghẻ là gãi không cưỡng lại được, đặc biệt khi ngủ ban đêm.

Bệnh ghẻ lây qua tiếp xúc cơ thể gần và có thể lan nhanh sang những người trong gia đình, nhà trẻ hay lớp học; vì vậy bác sĩ thường khuyên điều trị cho cả gia đình, cả lớp học để tiêu diệt nguồn căn gây bệnh.
Các loại thuốc bôi lên da rất có hiệu quả tiêu diệt ghẻ, cho dù bạn có thể vẫn bị ngứa vài tuần nữa.
Dấu hiệu và triệu chứng của ghẻ:
· Ngứa, thường nặng và nhiều hơn về đêm.
· Nốt giộp, sưng nhỏ trên da.
· Những vết như chấm bút chì trên da thường xuất hiện ở nếp gấp da và hay gặp nhất ở những vị trí sau: giữa các ngón tay, nách, quanh thắt lưng, phía trong cổ tay, phía sau khuỷu tay, mắt cá chân hoặc gan bàn chân, quanh vú, vùng bộ phân sinh dục nam, mông. Tuy nhiên, hầu hết mọi phần trên cơ thể đều có thể bị.
Điều trị:
Điều trị bao gồm tiệt trừ sự phá hoại của ghẻ bằng thuốc. Một số thuốc dạng kem và dung dịch đang có trên thị trường và thường được bôi lên cơ thể và để như vậy ít nhất 8 giờ. Bác sĩ sẽ kê cho bạn những loại thuốc phù hợp. Hai thuốc thường được dùng đó là:
· Permethrin (Acticin): thuốc với nồng độ 5% dùng để trị ghẻ. Bạn bôi thuốc lên cơ thể từ 8 đến 14 giờ, sau đó rửa sạch hoặc tắm. Thuốc có nồng độ nhẹ hơn (1%) chỉ được dùng để trị chấy.
· Lindan (Kwell): Nên bôi thuốc từ 8 đến 12 giờ rồi mới rửa sạch. Không nên dùng Lindan cho trẻ nhỏ, phụ nữ có thai hoặc chăm sóc bệnh nhân, người bị co giật hoặc các rối loạn thần kinh khác.
Do ghẻ dễ lây lan nên bác sĩ khuyên điều trị cho cả gia đình, cũng như bạn tình của bạn, kể cả khi họ không có triệu chứng của ghẻ.
Phòng bệnh:
Để phòng bệnh và tránh lây ghẻ sang người khác, bạn có thể áp dụng các bước sau:
· Giặt sạch tất cả quần áo và đồ vải: Giặt tất cả quần áo, khăn tắm, khăn trải giường trước khi điều trị bằng nước nóng, nước xà phòng và sấy khô ở nhiệt độ cao. Với những đồ giặt khô thì không nên giặt ở nhà.
· Xử lý đồ không thể giặt: dùng thuốc xịt chứa permethin cho những đồ không thể giặt được như dây lưng, giầy và ví. Có thể không cần xử lý thảm hay đồ đạc.
· Bỏ đói cái ghẻ: hãy bọc kín những đồ dùng không giặt được bằng túi nhựa kín và để vào nơi mà bạn không đặt chân tới trong 2 tuần. Cái ghẻ sẽ chết nếu chúng không được ăn trong 1 tuần.
Tự chăm sóc:
Bạn vẫn có thể bị ngứa một thời gian sau khi dùng thuốc trị ghẻ. Các bước sau có thể giúp giảm ngứa:
· Ngâm trong nước lạnh: để giảm ngứa, có thể ngâm mình trong nước lạnh hoặc chườm bằng khăn lạnh vào vùng bị ngứa.
· Nước bôi để làm dễ chịu: dung dịch Calamin bán không cần đơn có thể giảm đau và ngứa.
· Kháng histamin: theo lời khuyên của bác sĩ, bạn có thể dùng thuốc kháng histamin không cần đơn để giảm các triệu chứng dị ứng do ghẻ gây nên.


Hướng dẫn phòng tránh nấm bàn chân

Nấm bàn chân thường tác động tới khoảng giữa các ngón chân, nhưng có thể lan tới móng chân, gan bàn chân và mu bàn chân.


Dấu hiệu và triệu chứng
Có nhiều dấu hiệu và triệu chứng của nấm bàn chân, nhưng bạn có thể không mắc phải tất cả trong số chúng:
· Ngứa, nhức và nóng ở giữa các ngón chân, đặc biệt là ngón thứ 4 và ngón thứ 5.
· Ngứa, nhức và nóng ở gan bàn chân.
· Phồng giộp da.
· Ngứa và tróc da, đặc biệt là giữa các ngón chân và gan bàn chân.
· Mùi khó chịu
· Da dày
· Móng trở nên dày, dễ gãy, dễ xước, đổi màu hoặc bị bật móng.
Mặc dù chủ yếu xuất hiện ở người lớn, nhưng nấm bàn chân
cũng có thể tác động đến trẻ em
 
Điều trị
Nếu bị nhẹ, bác sĩ có thể khuyên bạn dùng thuốc chống nấm tại chỗ không cần đơn dạng mỡ, dung dịch, bột hoặc xịt. Hầu hết nhiễm trùng đáp ứng tốt với các thuốc dùng tại chỗ này.
Nếu bạn bị nhiễm nấm nặng hoặc không đáp ứng với thuốc dùng tại chỗ, bác sĩ có thể kê cho bạn thuốc uống.
Bác sĩ có thể kê kháng sinh đường uống nếu bạn có nhiễm khuẩn đi kèm.
Trong quá trình điều trị, nếu bạn đột ngột ngừng thuốc khi thấy triệu chứng thuyên giảm, bệnh có thể nặng trở lại. Vì vậy, để bệnh khỏi hoàn toàn, bạn cần tuân thủ phác đồ và thời gian điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ.
Phòng ngừa
Những lời khuyên dưới đây có thể giúp bạn phòng tránh nấm bàn chân hoặc làm giảm các triệu chứng nếu bị nhiễm nấm:
· Giữ cho chân bạn luôn khô, đặc biệt là giữa các ngón chân.
· Đi tất được làm từ nguyên liệu tự nhiên như là cotton hay sợi.
· Thay tất thường xuyên. Nếu chân bạn ra nhiều mồ hôi, thay tất 2 lần/ngày.
· Đi giầy nhẹ, thoáng. Tránh đi giầy làm từ chất liệu tổng hợp như nhựa vinyl hay cao su.
· Đi xen kẽ hai đôi giầy để chúng có thể khô trong vòng 2-3 ngày.
· Đi dép không thấm nước trong phòng tắm công cộng, bể bơi, trung tâm thể hình và những khu vực công cộng khác.
· Dùng thuốc chống nấm hàng ngày.
· Không mượn giầy.

Việc phải làm ngay khi bị nổi mề đay

Tuy là một bệnh da phổ biến, rất dễ nhận biết nhưng lại khó phát hiện nguyên nhân dù đã làm đầy đủ các xét nghiệm.

Ảnh minh họa
Những hiện tượng ban đầu chính là có những vùng da sẩn đỏ, ngứa và khó chịu. Mề đay là một phản ứng viêm của da, có cơ chế phức tạp, trong đó có sự can thiệp của chất trung gian hóa học chính là histamin.
Tuy là một bệnh da phổ biến, rất dễ nhận biết nhưng lại khó phát hiện nguyên nhân dù đã làm đầy đủ các xét nghiệm. Có nhiều yếu tố gây bệnh (bên trong, bên ngoài cơ thể, cơ địa) và trên một bệnh nhân, nhiều khi không chỉ có một mà gồm nhiều yếu tố cùng kết hợp.
Diễn biến bệnh
Cấp tính: xảy ra đột ngột và biến mất nhanh sau vài giờ hoặc vài ngày, hay gặp ở người trẻ và nguyên nhân thường gặp là do thức ăn hoặc thuốc.
Mãn tính: kéo dài trên 6 tuần, đa số là tự phát (vô căn), trường hợp này phải dựa vào những nghiên cứu thật công phu, tỉ mỉ mới có thể tìm được nguyên nhân. Thuốc chống dị ứng chỉ giải quyết được triệu chứng tạm thời. Muốn điều trị hiệu quả thì cái chính là phải tìm cho ra nguyên nhân, đôi khi không mấy dễ dàng.
Các dạng mề đay
Mề đay thông thường: bệnh bắt đầu đột ngột, rầm rộ ở bất kỳ vùng da nào trên cơ thể với những sẩn phù có màu hồng, đặc biệt rất ngứa và có thể hợp lại thành mảng có giới hạn rõ lan rộng khắp người. Sau vài phút hay vài giờ thì lặn mất, không để lại dấu vết. Phát ban có thể lặn ở chỗ này và nổi ở chỗ khác.
Phù mạch (còn gọi là phù Quincke): nổi ban đột ngột làm sưng to cả một vùng (mí mắt, môi, bộ phận sinh dục ngoài, niêm mạc...), cho cảm giác căng nhiều hơn ngứa, có thể kèm theo nổi mề đay. Nếu phù ở lưỡi, thanh quản, hầu sẽ gây suy hô hấp, phải xử trí cấp cứu.
Da vẽ nổi: còn gọi là mề đay giả. Nếu dùng một vật đầu tù xát nhẹ lên da, vài phút sau, trên mặt da sẽ nổi gồ lên một vệt màu hồng. Có thể đi kèm nổi mề đay.

Ngoài ra mề đay còn có những dạng khác như: sẩn nhỏ, sẩn - mụn nước hay xuất huyết.
Mề đay hay phù Quincke có thể đi kèm với những triệu chứng toàn thân như: sốt, đau khớp, rối loạn tiêu hóa, nhức đầu và nặng nhất là trụy tim mạch (sốc phản vệ) cần phải xử trí cấp cứu.
Điều trị bệnh mề đay
- Tốt nhất là loại bỏ yếu tố gây bệnh nếu biết.
- Tránh một số thức ăn, một số thuốc có thể gây dị ứng. Tránh các chất kích thích như: gia vị, rượu, trà, cà phê...
Trong cơn cấp:
- Ăn nhẹ, giảm muối.
- Trường hợp gây ngứa, khó chịu nhiều, có thể dùng giấm thanh pha trong nước ấm (1 phần giấm 2 phần nước) để thoa hay tắm.
- Tránh dùng thuốc mỡ kháng histamin (phenergan) thoa vì dễ gây viêm da dị ứng. Mỡ corticoides ít hiệu quả, có thể gây một số tác dụng phụ (nhất là khi thoa trên diện tích quá lớn).

Thuốc corticoides (uống hay tiêm) chỉ nên dùng trong điều trị mề đay cấp, nặng, kèm phù thanh quản. Một số trường hợp nổi mề đay do viêm mạch, mề đay do chèn ép không đáp ứng với các thuốc kháng histamin thông thường, không nên dùng để điều trị mề đay mạn tính tự phát.
Đối với mề đay mãn tính: vì thường có liên quan tới các bệnh lý bên trong nên bệnh nhân cần đến bác sĩ chuyên khoa khám, làm thêm các xét nghiệm cần thiết để tìm đúng nguyên nhân và có cách điều trị thích hợp.


Cách xử trí khi da bị tổn thương

Làn da của bạn rất dễ bị tổn thương do các yếu tố kích thích từ môi trường bên ngoài như nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh... Tổn thương da không nguy hiểm đến tính mạng người bệnh nhưng thường diễn biến dai dẳng và gây phiền toái cho người bệnh.
 
Tổn thương da bao gồm nhiều loại bệnh với các nguyên nhân khác nhau từ bệnh giời leo, mụn cóc nấm ngoài da, phát ban hay vết loét lạnh.... Biến chứng thường gặp của tất cả các bệnh tổn thương da là do gãi nhiều và nhiễm trùng tại các vết trợt loét.
 
Zona
 
Zona do một dạng vi khuẩn Herpes gây ra. Người mắc bệnh Zona sẽ phải chịu đựng cảm giác đau rát ở vùng phát ban. Nếu bạn đã từng mắc chứng thuỷ đậu (bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ), đây là điều kiện thuận lợi để bệnh Zona hình thành và phát triển. Bởi lẽ khi mắc thuỷ đậu ( mặc dù đã được điều trị), cơ thể sẽ tồn tại một loại virus “ẩn nấp” trong các tế bào thần kinh.
 
Khi hệ thống miễn dịch bị suy yếu, đó chính là lúc loại virus này “ lộ diện” và gây nên căn bệnh Zona. Đối tượng thường mắc căn bệnh này là những người trên 50 tuổi hoặc có hệ thống miễn dịch suy kém. Nếu điều trị muộn hoặc điều trị sớm mà không đủ liều thì sẽ để lại nhiều biến chứng.
 
Thời gian để trị liệu cho kết quả tốt nhất là 48 giờ sau khi có tổn thương da. Trong vòng một tuần thì kết quả chậm hơn nhưng vẫn tốt. Nếu để muộn quá thì kết quả điều trị kém và có thể để lại các di chứng như: đau kéo dài nhiều tháng, nhiều năm thậm chí có những người đau kéo dài đến hết cuộc đời, đặc biệt ở những người cao tuổi.
 
Nếu zona gây tổn thương nhánh mắt dây thần kinh số V (được chẩn đoán là zona mắt) thì có thể gây giảm hoặc mất thị lực hoàn toàn. Nếu zona gây tổn thương dây thần kinh số VII (Hội chứng Ramsay Hunt) có thể gây liệt mặt, méo mồm. Các biến chứng khác có thể gặp như: loét, sẹo lồi...
Phát ban
Phát ban ở da có thể là do nhiều lý do như sốt, nhiễm trùng trong cơ thể bởi các phản ứng dị ứng, thuốc, đồ kim hoàn giả, các sản phẩm chăm sóc da ... Sốt phát ban do virus chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Người bệnh được theo dõi điều trị và hỗ trợ bằng cách ăn uống đủ chất dinh dưỡng, chế độ nghỉ ngơi phù hợp, uống đủ nước, theo dõi các biến chứng và nhất là biểu hiện về thần kinh.
Nếu người bệnh sốt quá cao, gây rối loạn về tri giác, trở nên chậm chạp, li bì, kích thích, vật vã… thì phải đến bệnh viện ngay để tránh biến chứng viêm não. Tại bệnh viện cũng đang điều trị cho một vài trường hợp sốt phát ban có biểu hiện viêm não
Côn trùng cắn
Khi bị các loại côn trùng cắn, đốt, phản ứng ngoài da thường gặp nhất là tình trạng ngứa ngáy dữ dội nơi bị cắn, nổi hồng ban sưng phù, tróc vẩy, nổi mụn nước, bóng nước và các nốt dạng hạch lympho. Những vết đốt không nguy hiểm thường giảm và khỏi sau một ngày, nhưng đối với một số côn trùng có nọc độc như o­ng, kiến, nhện,… có thể đưa đến sốc phản vệ nguy hiểm đến tính mạng. Do đó khi bị côn trùng cắn đốt, chúng ta cần biết cách xử lý vết đốt cũng như cách nhận biết các triệu chứng nguy hiểm để đến cơ sở y tế kịp thời.
Nấm ngoài da
Đây là một bệnh nhiễm trùng nấm. Bệnh rất dễ tái phát nếu không điều trị dứt. Áp dụng một loại kem chống nấm hoặc rắc bột chống nấm bụi. Tham khảo ý kiến một bác sĩ da liễu trong trường hợp nhiễm trùng nặng.
Ung thư da
Giống như nhiều loại ung thư khác, ung thư da luôn khởi đầu với những thương tổn tiền ung thư. Ung thư da có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện sớm.
Chàm
Chàm là một bệnh da không lây truyền, ngứa, viêm, có thể là cấp, bán cấp hay mạn tính. Biểu hiện bệnh rất đa dạng, nhưng có chung đặc tính: ngứa, có mụn nước sắp xếp thành từng mảng giới hạn không rõ, tiến triển thành từng đợt, dai dẳng, hay tái phát. Hai yếu tố cơ bản phát sinh ra chàm là thể tạng dị ứng và tác nhân kích thích ở trong hay ngoài cơ thể vào thể tạng ấy.
 
Người bệnh cần khám bác sĩ để tìm nguyên nhân gây bệnh, khi loại bỏ được nguyên nhân dị ứng là khâu quyết định để chữa khỏi bệnh; dùng thuốc uống phối hợp với thuốc bôi ngoài da; về dinh dưỡng trong đợt cấp, tránh dùng rượu, nước chè, cà phê, thuốc lá, tôm, cua, cá, đồ hộp, rau sống...; không nên dùng các loại thuốc mạnh, nên điều trị thử nếu thuốc không gây dị ứng mới dùng; người bệnh không nên gãi làm trầy da khi ngứa, không dùng các loại: xà phòng, thuốc bôi, đắp theo lời mách bảo của người thân... Những thuốc có tác dụng an thần, chống ngứa: kháng histamin, an thần, thuốc giải mẫn cảm (vitamin C liều cao), các loại vitamin D2, A, B2, B6, P, PP... thuốc Đông y; dùng kháng sinh để phòng bội nhiễm.
Mề đay
Bệnh có thể là cấp tính hoặc mãn tính. Phát ban cơ bản là một phản ứng của da khi bị trầy xước. Vài yếu tố phổ biến được tìm thấy trong phát ban dị ứng thức ăn, nhiễm trùng và ma túy gây ra. Một số nguyên nhân phổ biến có thể là ma sát, ánh sáng mặt trời, do ảnh hưởng của nhiệt độ. Khi bị bệnh cấp tính hãy tham khảo ý kiến bác sĩ da liễu ngay lập tức.
Vết loét lạnh
Vết loét lạnh còn được gọi là mụn nước. Đây là một virus herpes nhiễm trùng. Virus này đặc biệt trở nên tiềm ẩn trong cơ thể và trở thành phản ứng do căng thẳng bất kỳ. Tổn thương đau đớn và thường xảy ra xung quanh môi và mũi. Nếu dịch xảy ra thường xuyên hơn, tham khảo ý kiến bác sĩ da liễu.
Nhọt
Nó xảy ra do nhiễm trùng ở da và nang lông. Nói chung, nó là một nhiễm trùng do vi khuẩn, nó sẽ xảy ra khi da tiếp xúc với một cảm giác cực kỳ nóng. Bệnh nhân tiểu đường dễ bị nhọt tái phát, ở trẻ em là do điều kiện không hợp vệ sinh. Hãy khám bác sĩ được được điều trị tùy theo mức độ nặng nhẹ của bệnh.
Bỏng
Bỏng có thể hủy hoại làn da của bạn. Trong khi bỏng nhẹ thường không nguy hiểm, bệnh nặng có thể phát triển các biến chứng. Bạn có thể dùng một loại kem nước bỏng hòa tan trong trường hợp là không có phồng rộp. Không áp dụng bất kỳ dầu hoặc bơ vì nó có thể làm cho vết bỏng sâu hơn bằng cách giữ lại nhiệt.
Mụn cóc
Đây là một nhiễm virus có thể lây nhiễm. Có nhiều loại khác nhau của mụn cóc như mụn cóc sinh dục, bằng phẳng, giống như ngón tay và chân. Việc điều trị hiệu quả nhất là loại bỏ các mụn cóc bằng cách chữa bệnh hoặc laser do bác sĩ da liễu điều trị. Có thể điều trị bằng thuốc nếu mụn có kích thước nhỏ.
Mụn trứng cá
Mụn thường được gọi là mụn nhọt hoặc mụn. Đó là một tình trạng rất thường thấy ở tuổi niên thiếu. Propionibacterium acnes là vi khuẩn chịu trách nhiệm cho tình trạng này. Sự mất cân bằng nội tiết, thiếu chăm sóc da, tiêu thụ đồ ăn vặt, sử dụng sai mỹ phẩm là những lý do gây ra mụn trứng cá.
Để làm sạch mụn trứng cá nên sử dụng các sản phẩm không gây mụn. Không nên nặn trứng cá vì nó dẫn đến dấu hiệu rất xấu, khó coi. Nếu bệnh nặng nên tư vấn vấn bác sĩ để được điệu trị triệt để.


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons